Trở về từ Harvard kỳ 1: Từ trải nghiệm tại Harvard đến những đổi mới ở Wellspring


Mùa hè vừa qua, 3 thầy cô trong Ban giám hiệu của trường Wellspring đã tham gia các khoá học đặc biệt do Đại học Harvard tổ chức dành cho các nhà quản lý giáo dục cấp cao trên toàn thế giới: khoá học “The art of Leadership” – “Nghệ thuật Lãnh đạo” và “Deeper Learning for All: From the Classroom to the System” – “Học sâu hơn cho tất cả mọi người: Từ lớp học đến hệ thống”.

“Trở về từ Harvard” sẽ là chuỗi bài viết chia sẻ về những kiến thức cùng trải nghiệm quý giá và các ý tưởng, kế hoạch thực tế để ươm dưỡng cảm hứng về việc học sâu, sự đổi mới, sáng tạo và tinh thần lãnh đạo cho các giáo viên và học sinh thân yêu trường Wellspring của các thầy cô sau một hành trình tuyệt vời tại Harvard.

Mở đầu chuỗi bài là bài viết của thầy Nguyễn Vĩnh Sơn – Hiệu trưởng trường THPT Wellspring sau khoá học “Deeper Learning for All: From the Classroom to the System”. Thầy Vĩnh Sơn đã có hơn 10 năm học tập, nghiên cứu và làm việc tại Vương quốc Bỉ. Thầy lấy bằng Tiến sĩ ngành Hoá Lý tại trường Đại học Leuven – KU Leuven. Từ khi về nước, thầy quyết tâm theo đuổi sự nghiệp giáo dục phổ thông và quan niệm: Được học – được dạy học là niềm vinh dự, sự tự hào của con người. Tự bản thân mỗi chúng ta đều đồng thời là người học và người dạy học, chính bởi vậy, luôn phải ghi nhớ  và tự nhắc nhở mình: “Deeper learning – Teaching by heart” – “Học thật sâu – Dạy thật tâm”.

Ảnh CN

Từ trải nghiệm tại Harvard đến những đổi mới ở Wellspring

Khoá học “Deeper Learning for All: From the Classroom to the System” tại trường Harvard Graduate School of Education là một trong những khoá học mang đến cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm để triển khai và thực hiện thực tế ở Wellspring.

2.1

“Deeper Learning” là một thuật ngữ mới trong những năm gần đây, mặc dù đã có nhiều nhà giáo dục đã đề cập tới “khái niệm” này từ những năm cuối thế kỷ 19.[1] Năm 1893, Joseph Mayer Rice, editor tạp chí “The Forum”, một trong những người được ghi nhận đầu tiên đưa ra khái niệm này, đã đối chiếu giữa “giáo dục cổ điển – old education” nhấn mạnh đến việc học thuộc lòng, thực hành dập khuôn máy móc và “giáo dục hiện đại – new education” hướng tới việc dẫn dắt học sinh quan sát, đặt câu hỏi và ghi nhớ hiện tượng.[2] Nhà toán học, triết gia người Anh, Alfred North Whitehead đã bàn về sự khác nhau giữa “hình thức học tập tích cực” và “thu nhận kiến thức thụ động” trong quyển sách tập hợp các bài giảng của ông từ năm 1912 -1928 “The Aims of Education and Other Essays” xuất bản năm 1929.[3] Trong quyển sách của mình xuất bản năm 1970,[4] Nhà giáo dục khai phóng Paulo Freire, đã không ngần ngại phê phán xu hướng “ngân hàng hoá” các mô hình giáo dục, nơi học sinh được xem là những chiếc két rỗng còn giáo viên là những người “ký gửi” kiến thức, và ông cũng đã chỉ ra dạy học cách đặt vấn đề là một mô hình thay thế. Các học giả hiện đại cũng đã miêu tả sự tương phản giữa mô hình giáo dục hiểu bản chất với giáo dục theo quy ước, quy tắc, giữa giáo dục khuyến khích học sinh chủ động suy nghĩ với giáo dục yêu cầu học sinh làm theo hướng dẫn, hay giáo dục có mục đích và ý nghĩa cho học sinh với giáo dục chỉ hướng đến kết quả của học sinh.[5]

Điều đặc biệt quan trọng và rất ý nghĩa với tôi khi tham gia khoá học này là được trực tiếp lắng nghe những trao đổi, chia sẻ của Giáo sư Jah Mehta, tác giả quyển sách “In search of Deeper Learning”. Ngoài việc tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu về 30 mô hình, trường học được  cho là “những trường học kỹ năng thế kỷ 21 hay Deeper Learning Schools”, ông đã nhấn mạnh đến các yếu tố, lý do ảnh hưởng trực tiếp đến việc học, việc hình thành những năng lực, kỹ năng của học sinh nhằm đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, kinh tế trong thế kỷ 21.

Trước hết đó là sự phức tạp, thay đổi nhanh chóng của thế giới, đặc biệt là sự xuất hiện và phát triển của những nền kinh tế mới nổi, đã tạo ra một lỗ hổng lớn các công việc mà trước đây học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể đáp ứng được. Hệ thống kỹ năng mà nhà tuyển dụng dùng để đánh giá cũng đã thay đổi. Một ví dụ điển hình là vào năm 1970, ba kỹ năng hàng đầu các nhà tuyển dụng yêu cầu là đọc, viết và toán số học.[6] Nhưng đến năm 2015, các kỹ năng đó là giải quyết vấn đề phức tạp, tư duy phản biện và sáng tạo.[7] Điều đó cho thấy mô hình và phương thức giáo dục năm 1970 sẽ không chuẩn bị cho học sinh những kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động ngày nay.

Tiếp đó là học sinh hiện đang sống trong một thế giới bị ảnh hưởng bởi các vấn đề phức tạp có tính chất toàn cầu, bao gồm biến đổi khí hậu, bình đẳng và bất bình đẳng giữa các nền kinh tế, sự đấu tranh giữa các luồng tư tưởng, và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Những điều này được thể hiện bởi sự phát triển hỗn loạn của các quan điểm, những thực tế, bí mật và nguồn thông tin không rõ ràng. Do đó thế hệ học sinh bây giờ sẽ được yêu cầu hiểu biết, điều hướng, sinh tồn, thích nghi, phát triển để đáp ứng được các vấn đề, bối cảnh mới lạ của xã hội, môi trường và kinh tế; và nếu có thể, học sinh là những người giúp hàn gắn thế giới tương lai của chúng. Các trường học sẽ cần phải làm phần việc của mình để phát triển học sinh có được kỹ năng, sáng tạo, tri thức, thông tin và đồng cảm – đó là là những công dân và nhà lãnh đạo mà nền kinh tế, xã hội và thế giới cần có.[1]

Một cách khái quát, thuật ngữ “Deeper Learning” bao hàm một loạt các thuộc tính mong muốn được học, và việc học cần phải vượt ra khỏi việc “học vẹt-rote learning”“kiểm tra ghi nhớ-shallow testing”. Báo cáo của Hội đồng nghiên cứu quốc gia năm 2012 mô tả về thuật ngữ này là sự bồi dưỡng và phát triển các năng lực “cognitive, intrapersonal, interpersonal – nhận thức, làm chủ bản thân và chung sống với các cá nhân khác”.[8] Tổ chức Hewlett đã phổ biến thuật ngữ này và định nghĩa nó là sự kết hợp những đặc điểm của việc học khi cho phép người học “phát triển sự hiểu biết sâu sắc các nội dung học thuật cốt lõi, thể hiện tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, hợp tác, giao tiếp, tự định hướng việc học và có được tư duy học thuật”.[9] Một cách nói khác, Deeper Learning đề cập đến những năng lực mà học sinh cần cho sự thành công trong thế kỷ 21 – cũng như các phương pháp mà các nhà giáo dục có thể sử dụng để xây dựng, phát triển những năng lực này.

Vậy “Học sinh cần biết những năng lực gì và có thể làm gì để phát triển những năng lực này trong thế kỷ 21?” và “Làm thế nào các nhà giáo dục có thể nâng cao năng lực này hơn nữa cho học sinh?”. Trong phạm vi bài viết đầu tiên này, tôi sẽ chia sẻ về trải nghiệm cá nhân của mình khi được thiết kế, xây dựng một kế hoạch hành động cụ thể để có thể áp dụng và triển khai tại trường Wellspring.

3.2

Quan điểm giáo dục “lấy người học làm trung tâm” được thực hiện ngay tại khoá học của chúng tôi ở Đại học Harvard khi các nội dung của khoá học được thiết kế và xây dựng từ chính những mong muốn, khó khăn, thách thức và trăn trở được tạo ra môi trường học tập an toàn, hạnh phúc cho học sinh. Chúng tôi và các giáo sư, chuyên gia của Đại học Harvard đã chia sẻ, trao đổi để cùng nhau tìm ra những kế hoạch phù hợp, áp dụng hiệu quả và tối ưu nhất cho từng vấn đề cụ thể.

Như một bài tập nhỏ để đánh giá quá trình tìm hiểu và kinh nghiệm của mỗi người học trước khi tham gia khoá học, chúng tôi được yêu cầu thực hiện thử thách “Đóng vai một học sinh”. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng của khoá học này. Tôi đã nghĩ rằng mình không may mắn khi không được trực tiếp thực hiện thử thách này vì học sinh đang trong kỳ nghỉ hè. Tuy nhiên đó là lại cơ hội tuyệt vời khi tôi được đọc tất cả các kế hoạch, cách thức thực hiện, những ý kiến, trao đổi và nhận xét vô cùng thiết thực của những vị hiệu trưởng, CEO khác khi họ đã thực hiện thử thách này. Tôi đã nghiên cứu từng kế hoạch, mô hình, cách thực hiện của họ để từ đó xây dựng một kế hoạch dành riêng cho giáo viên và học sinh Wellspring.

4.2

Với kế hoạch đã thiết kế, xây dựng cho giáo viên và học sinh Wellspring, tôi tiếp tục được trực tiếp trình bày với giáo sư Mehta và đặc biệt là Chủ tịch và CEO của hệ thống Giáo dục High Tech High, Larry Rosenstock. Được lắng nghe những chia sẻ, góp ý, nhận xét của giáo sư Mehta và chuyên gia giáo dục Larry Rosenstock, người đã áp dụng “Deeper Learning” vô cùng hiệu quả và thành công vào hệ thống Giáo dục High Tech High của ông, tôi đã hoàn thiện được kế hoạch của mình với tên gọi BEING WELL STUDENTS.

5.2

Xuất phát từ quan điểm của “Deeper Learning” là việc học cần trở thành mong muốn, nhu cầu và niềm yêu thích cuả học sinh. Sự đa dạng của học sinh trong mỗi lớp học cộng với sự phức tạp, biến động, phát triển không ngừng của xã hội, văn hoá và môi trường, đòi hỏi người giáo viên luôn cần phải chủ động hiểu ĐÚNG và ĐỦ về học sinh của mình.

Một trong những hoạt động cụ thể của kế hoạch BEING WELL STUDENTS là mỗi giáo viên sẽ trải nghiệm đóng vai học sinh trọn vẹn trong 01 ngày học. Giáo viên sẽ tham gia tất cả các hoạt động từ học tập, nghỉ ngơi, vui chơi giống như một học sinh mà không có bất kỳ một sự phân biệt nào. Việc chọn lớp nào để trải nghiệm đóng vai học sinh là hoàn toàn ngẫu nhiên. Sau đó giáo viên sẽ tổng hợp lại những điều mong muốn của mình với vai trò là học sinh. Việc này sẽ được tiến hành với 100% giáo viên trong trường. Khối lượng thông tin và số liệu này sẽ được ban giám hiệu tiếp cận, thống kê, sau đó chọn lọc những kiến nghị mang tính khả thi để áp dụng vào thực tế.

Khi thực sự biến mình thành một học sinh, người giáo viên cũng sẽ hiểu một cách sâu sắc những mối quan tâm của học sinh, đồng cảm với những vất vả của học sinh mà nhiều khi từ trên bục giảng, họ đã không nhìn thấy. Không chỉ đơn giản là chuyển chỗ ngồi, kế hoạch này còn mong muốn chuyển được góc nhìn của người giáo viên, từ “đối diện” sang “cùng một hướng” với học sinh ở phía dưới.

Khi thực sự đã thấu hiểu, người giáo viên sẽ có những thay đổi tự thân, để cách dạy học của mình, cách thiết kế các hoạt động học tập của mình phù hợp hơn với năng lực của mỗi học sinh, để việc “giảng dạy” của thầy cô và “học tập” của học trò sẽ là những con đường có chung đích đến. 

Kế hoạch BEING WELL STUDENTS sẽ giúp chúng tôi, những người giáo viên thực sự hiểu được học sinh của mình, từ những khó khăn, thách thức trong học tập cho tới quá trình phát triển tâm sinh lý và cả môi trường sống của học sinh. Việc “hoá thân” thành một học sinh và tham gia đầy đủ các tiết học trong một ngày sẽ là cơ hội đầu tiên để giáo viên thấu hiểu, đồng cảm với từng học sinh. Tôi tin rằng kế hoạch BEING WELL STUDENTS – là một hành động tuy nhỏ nhưng sẽ góp phần giúp từng giáo viên thay đổi bản thân và từ đó tác động tích cực tới mỗi học sinh trong từng lớp học.

 

Chú thích trong bài viết:

[1] Jah Mehta & Sarah Fine, In Search of Deeper Learning: The Quest to Remake the American High School (Cambridge, Mass: Harvard University Press, 2019).

[2] Joseph Mayer Rice, The Puclic-School System of the United States (New York: Century, 1893).

[3] Alfred North Whitehead, The Aims of Education and Other Essays (New York: Macmillan, 1929).   

[4] Paulo Freire, Pedagogy of the Oppressed (New York: Seabury Press, 1970).

[5] Magdalene Lampert et al., “Keeping It Complex: Using Rehearsals to Support Novice Teaching Learning of Ambitious Teaching,” Journal of Teacher Education 64, no. 3 (2014): 226-243.  

[6] Linda Darling-Hammond et al., Criteria for High Quality Assessment (Stanford, Calif.: Stanford Center for Opportunity Policy in Education, 2013).

[7] See World Economic Forum, https://www.inc.com/melanie-curtin/the-10-top-skills-that-will-land-you-high-paying-jobs-by-2020-according-to-world-economic-forum.html.

[8] National Research Council (U.S.), Committee on Defining Deeper Learning and 21st Century Skills, Education for Life and Work: Developing Transferable Knowledge and Skills in the 21st Century (Washington, D.C.: National Academies Press, 2012). 

[9] Hewlett Foundation, “Deeper Learning Competencies” (2013), https://www.hewlett.org/wp-content/uploads/2016/08/Deeper_Learning_Defined__April_2013.pdf

 

Một số hình ảnh trong khóa học “Deeper Learning for All: From the Classroom to the System”:

IMG_5665 IMG_5718 IMG_6177 IMG_6158